Cung Thân đọc thế nào? Chữ THÂN không thêm ô nào, nó đổi câu hỏi
Trên lá số của bạn có đúng một chữ THÂN. Nó in ở hàng dưới cùng của một ô, sát mép trái, chữ vàng và nhỏ hơn tên chính tinh cùng ô. Chữ ấy không thêm ô nào vào lá số và cũng không thêm sao nào. Việc của nó là đánh dấu một ô vốn đã có tên sẵn, rồi đổi câu hỏi mà bạn đặt cho những sao đang đứng ở đó. Bài này chỉ chỗ tìm nó và nói cái nó thay đổi. Kèm mấy con số đếm được trên 525.960 lá số, để bạn phân biệt chỗ nào đặc biệt thật với chỗ nào chỉ nghe có vẻ đặc biệt.
1. Tìm chữ THÂN ở hàng dưới cùng của ô, sát mép trái
Mỗi ô trên lá số có ba tầng chữ. Hàng trên cùng là nhãn can chi cỡ nhỏ bên trái, tên ô ở giữa, khoảng tuổi đại vận bên phải. Khoảng giữa ô dành cho tên các chính tinh, phía dưới chúng là hai cột phụ tinh. Hàng dưới cùng cũng có ba chỗ: bên trái là chữ THÂN, chính giữa là tên vòng Trường Sinh, bên phải là quan hệ ngũ hành giữa ô và bản mệnh.
Khác biệt nằm ở chỗ chỉ đúng một ô trong mười hai ô in chữ THÂN, còn hai thứ kia thì ô nào cũng có. Chữ THÂN nằm sát góc dưới bên trái của ô, viết hoa toàn bộ, và các con chữ giãn ra rộng hơn hẳn hai chữ cùng hàng. Nó là chuỗi duy nhất trong ô viết hoa hết, nên quét mắt dọc mép trái đáy mười hai ô là thấy, không cần đọc từng ô.
Ô Mệnh thì dễ tìm hơn nhiều, và tìm bằng màu chứ không bằng chữ: nó là ô duy nhất được viền bốn góc bằng nét đỏ son, kể cả hai góc dưới. Khung góc son là khung, chữ THÂN là chữ, và hai thứ đó có thể cùng nằm trên một ô. Nếu bạn thấy vậy thì đó không phải lỗi hiển thị. Trường hợp ấy có tên trong sách, mục 6 nói tới.
2. Thân không phải ô thứ mười ba
Một quy ước để đọc cho gọn: bài này gọi mười hai cung là mười hai ô, và để dành chữ chi cho tên địa chi in nhỏ ở góc trên bên trái mỗi ô. Ô Mệnh với cung Mệnh là một thứ. Lá số có mười hai ô, mỗi ô một tên, và danh sách đó đóng lại ở con số mười hai. Chữ THÂN không mở thêm ô nào. Nó chỉ chồng lên một ô đã có tên, đã có sao, đã được luận. Nói cách khác, mọi sao trong ô Thân là sao bạn đã nhìn thấy rồi nếu đọc kỹ lá số. Thứ duy nhất chữ ấy mang tới là một câu hỏi thứ hai đặt lên cùng những sao đó.
Ô nào mang chữ THÂN, xét theo TÊN ô, là do giờ sinh quyết định và chỉ giờ sinh. Ngày, tháng, năm sinh và giới tính đều không đổi được tên ô ấy. Kiểm trên 525.960 lá số của lưới quét: mỗi giờ sinh cho ra đúng một tên ô, 43.830 lá mỗi giờ, không có lấy một ngoại lệ. Nói thêm cho khỏi nhầm, vì đây là chỗ dễ đọc lướt: cái do giờ sinh khoá chặt là TÊN ô, còn ô ấy nằm ở CHI nào thì tháng sinh âm lịch mới quyết định. Hai người cùng giờ sinh khác tháng sinh có thể có chữ THÂN ở hai chi khác nhau mà vẫn cùng một tên ô. Bảng quy đổi giờ sinh sang tên ô thì tra một lần là thuộc, nên bài này không dựng lại nó mà đi thẳng vào chuyện đọc.
Vì thế câu hỏi lá số tôi có cung Thân không là câu hỏi không có nội dung. Lá số nào cũng có, mỗi lá đúng một chỗ, giống như lá số nào cũng có cung Mệnh. Câu hỏi dùng được là ô Thân của bạn rơi vào ô nào, và cách nó bao xa so với ô Mệnh.
3. Ô Thân và ô Mệnh luôn cách nhau một số bước chẵn
Mười hai ô xếp thành một vòng chạy quanh rìa lá số. Chiều đếm phải nói rõ, vì đếm sai chiều là ra con số khác hẳn: đếm theo chiều địa chi tăng dần, tức Tý sang Sửu sang Dần sang Mão và cứ thế, chứ đừng đếm đường nào ngắn hơn. Chi của mỗi ô in nhỏ ở góc trên bên trái nên bạn dò được. Đếm đúng chiều đó, số bước từ ô Mệnh sang ô mang chữ THÂN chỉ có thể là một trong sáu con số: 0, 2, 4, 6, 8 hoặc 10. Không bao giờ ra số lẻ. Trên toàn bộ 525.960 lá số của lưới, số ca vi phạm là 0.
Trên lá số của bạn, hệ quả thấy được ngay: chữ THÂN không nằm ở hai ô sát cạnh ô Mệnh, và cũng không nằm ở ô cách Mệnh ba bước. Một lá số thì chỉ xác nhận được lá của bạn thôi; lý do nó đúng cho mọi lá thì nằm ở chỗ khác. Lý do nằm trong cách an cung. Cả hai cùng xuất phát từ một mốc chung, là ô đếm tới từ ô mang chi Dần theo tháng sinh âm lịch. Từ mốc đó, ô Mệnh đi lùi một số bước bằng chỉ số giờ, còn ô Thân đi tới đúng số bước ấy. Khoảng cách giữa hai ô vì thế luôn bằng hai lần chỉ số giờ, và hai lần một số nguyên thì không thể lẻ.
Trong lưới quét, sáu khoảng cách chia đều nhau, mỗi cái đúng một phần sáu. Con số ấy không nói gì cả. Lưới ghép mười hai giờ sinh với số lượng bằng nhau, mà khoảng cách chỉ phụ thuộc giờ sinh, nên nó buộc phải chia đều. Ngoài đời giờ sinh không rải đều như vậy, và bài này không có số liệu về chuyện đó.
Một con số khác cũng rỗng theo kiểu đó, nhưng đáng ghi vì hay bị đọc ngược. Chi của ô mang chữ THÂN rải đúng bằng nhau trên cả mười hai chi, mỗi chi 43.830 lá trong lưới, không lệch một lá nào. Nghĩa là không có chi nào hiếm và không có chi nào đặc biệt. Ai nói Thân đóng ở chi này thì quý hơn chi kia, con số ở đây không đỡ cho câu đó.
4. Tám trong mười hai giờ sinh: ô Thân đã nằm trong bộ ô bạn phải đọc sẵn
Sách tử vi không cho phép luận một ô đứng lẻ. Muốn đọc cung Mệnh thì phải đọc cả cụm bốn ô gọi là tam phương tứ chính, gồm ô Mệnh, hai ô tam hợp cách nó bốn bước và tám bước, cùng ô xung chiếu cách nó sáu bước. Bốn con số 0, 4, 6 và 8 vừa nhắc ở mục trên chính là bốn ô ấy.
Hệ quả rơi ra ngay: với tám trong mười hai giờ sinh, ô Thân trùng vào một ô mà bạn đã phải đọc rồi. Đếm trên 175.320 lá số nam thuộc bốn khoảng cách đó, số chính tinh mà ô Thân mang thêm so với cụm bốn ô là 0. Mọi phép đếm chính tinh trong bài chạy trên nửa lưới nam, vì giới không làm chính tinh đổi chỗ; lý do đầy đủ ở mục 7. Nói cho sòng phẳng, đây là hệ quả của định nghĩa chứ không phải phát hiện thống kê: ô Thân lúc ấy là một trong bốn ô, nên đương nhiên không thêm được sao nào ngoài cụm. Phép đếm chỉ để chắc engine an cung không lệch khỏi lý thuyết.
Bốn giờ sinh còn lại mới là chỗ chữ THÂN kéo vào bài đọc một ô nằm ngoài cụm. Hai trong bốn giờ đó là giờ Tỵ và giờ Hợi, và ô được kéo vào là ô Phu Thê. Hai giờ còn lại rơi vào một ô khác, ô đó đang chờ một bài riêng nên bài này không mở ra ở đây.
Với nhóm giờ Tỵ và Hợi, đếm trên 43.830 lá thuộc nửa lưới nam của nhóm ấy, tức 2 giờ nhân 21.915 ngày: 16,404% có ô Thân không chứa chính tinh nào, 50,470% chứa đúng một chính tinh, 33,126% chứa hai. Trung bình 1,17 sao. Ba nhóm ấy vét cạn theo định nghĩa chứ không phải nhờ đếm kỹ, vì một ô nhiều nhất chỉ chứa được hai chính tinh. Cần khai một chuyện để bạn khỏi đọc quá tay: mỗi chính tinh chỉ được an một lần trên lá số, nên sao nằm trong ô Thân mà ô ấy ở ngoài cụm thì đương nhiên là sao chưa đọc. Con số trên vì thế chính là số chính tinh trong ô, không phải một phép đếm thứ hai xác nhận cho phép đếm thứ nhất.
Chị Hà sinh ngày 19/11/1988 giờ Hợi là một ca như vậy. Ô Mệnh của chị ở chi Tý, chữ THÂN nằm ở ô Phu Thê tại chi Tuất, cách ô Mệnh mười bước. Ô đó có Thiên Đồng ở mức hãm đi cùng Địa Kiếp. Nếu chị chỉ đọc cụm bốn ô quanh Mệnh thì hai sao này không có mặt trong bài đọc. Chữ THÂN là thứ duy nhất trên lá số nói rằng chúng cần được đọc.
5. Ô Thân không có sao riêng, và mấy con số nghe đặc biệt đều không đặc biệt
Câu hỏi hay gặp nhất là sao nào hay nằm ở ô Thân. Đếm trên 262.980 lá số nam, mỗi chính tinh trong mười bốn chính tinh có mặt ở ô đó khoảng 8,33% số lá, cụ thể trải từ 8,329% tới 8,341%. Khoảng chênh giữa sao cao nhất và sao thấp nhất là 0,012 điểm phần trăm. Đó là một phần mười hai, tức con số bị ép bởi cách an sao chứ không phải kết quả quét được. Kẻo hiểu nhầm: cộng cả mười bốn tỉ lệ ấy lại ra 116,7% chứ không phải 100%, vì một ô có thể chứa hai chính tinh cùng lúc. Câu trả lời đúng cho câu hỏi trên là không sao nào nổi trội hơn sao nào.
Ba phép đếm khác cũng cho ra cùng một hình dạng. Ô Thân không chứa chính tinh nào ở 16,442% số lá trong nửa lưới ấy, trong khi cả mười hai ô của lá số nằm gọn trong khoảng 16,442% tới 16,451%. Ô Thân mang ít nhất một trong sáu sát tinh Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp ở 41,364% số lá, còn dải của mười hai ô là 41,364% tới 41,879%. Không phép đếm nào tách ô Thân ra khỏi đám đông. Ba con số ấy cũng không phải ba bằng chứng độc lập. Mục 3 đã cho thấy chi của ô Thân rải đều cả mười hai chi, nên tỉ lệ của nó buộc phải rơi về đúng trung bình của mười hai ô. Ba phép đếm là cùng một chuyện đếm ba lần.
Gộp lại thành một câu: xét về sao, ô mang chữ THÂN không khác bất kỳ ô nào khác trên lá số. Nếu có ai nói ô Thân của bạn xấu vì nó có sát tinh, con số vừa rồi cho biết hơn bốn trên mười lá số trong lưới cũng ở tình trạng ấy, và mười hai ô đều quanh mức đó.
Còn một chuyện thực dụng, và phải khai luôn là nó không cần tới lưới. Vị trí cả mười bốn chính tinh treo vào đúng một biến, là chỗ đứng của sao Tử Vi, mà biến ấy chỉ có mười hai giá trị. Nghĩa là mọi lá số trên đời chỉ có mười hai bố cục chính tinh. Duyệt tay đủ mười hai bố cục thì thấy: không bố cục nào có hai ô đối nhau cùng trống. Phép quét 43.239 lá số có ô Thân trống chính tinh ra kết quả 0 lá có ô đối diện cũng trống, đúng như phải thế, và nó chỉ là đếm lại mười hai hình vẽ ấy. Cái dùng được vẫn còn nguyên: cách đọc một ô trống là mượn chính tinh từ ô đối diện, ô cách nó đúng sáu bước, và phép mượn ấy không bao giờ hụt.
Chị Vy sinh ngày 22/4/1996 giờ Dậu là ví dụ dễ nhớ. Chữ THÂN của chị nằm ở ô Thiên Di tại chi Sửu, và ô đó không có chính tinh nào. Ô để mượn sao là ô Mệnh tại chi Mùi, nơi có Thiên Đồng và Cự Môn cùng ở mức hãm. Chỗ này không phải trùng hợp: Thiên Di theo định nghĩa là ô đối diện Mệnh, nên hễ chữ THÂN đóng ở Thiên Di thì ô để mượn luôn là ô Mệnh, không có ca nào khác. Vậy ô Thân của chị đọc bằng chính hai sao thủ Mệnh của chị, chỉ khác câu hỏi đặt ra cho chúng.
6. Sách gán cho ô Thân một câu hỏi, không gán cho nó sao
Bộ tài liệu Tam Hợp Phái mà trang này dựa vào có mục riêng cho hầu hết các trường hợp Thân đóng ở đâu, và nội dung mấy mục ấy là đặc trưng tính cách cùng thứ mà đương số coi là trung tâm đời mình. Chúng nói về người, không mục nào thêm sao vào ô. Đây là chỗ chữ THÂN có việc để làm, chứ không phải ở mấy phép đếm sao ở mục 5.
Thân đóng tại ô Quan Lộc, theo tài liệu, cho ra mẫu người của công việc: cuộc đời gắn chặt với sự nghiệp, coi trọng danh vị và sự công nhận hơn tiền bạc đơn thuần, thường xuyên quá tải và khó tách khỏi việc. Tài liệu nói thêm rằng vì Thân đóng ở đó nên ô Phu Thê phản chiếu mạnh, công việc và gia đạo kéo nhau. Anh Kiên sinh ngày 7/10/1993 giờ Thân rơi vào nhóm này. Ô Mệnh của anh ở chi Sửu với Liêm Trinh và Thất Sát cùng đắc, còn chữ THÂN nằm ở ô Quan Lộc tại chi Tỵ, nơi có Vũ Khúc và Phá Quân cùng ở mức hãm. Hai ô cách nhau bốn bước, tức ô Thân nằm trong tam hợp của Mệnh, nên anh đọc kỹ cụm bốn ô là đã chạm tới nó rồi.
Thân đóng tại ô Thiên Di được tài liệu tóm bằng ba chữ tự giác, tự lập, tự do: ra đời và vào nghề sớm hơn bạn cùng lứa, hướng ngoại, hợp các nghề phải đi lại như báo chí, du lịch, ngoại thương. Kèm theo là một câu cảnh báo ngược chiều, rằng mẫu người này dễ không bằng lòng với hiện tại và hay nhìn sang chỗ khác. Chị Vy ở mục 5 thuộc nhóm này.
Thân đóng tại ô Tài Bạch cho ra mô tả gọn nhất trong cả nhóm: tiền bạc là vấn đề chính yếu của đời người ấy, họ lấy đồng tiền làm thước đo thành công, nhìn đâu cũng thấy cơ hội, làm được nhiều nghề cùng lúc và sẵn sàng đổi việc nếu chỗ khác kiếm được hơn. Tài liệu xếp họ hợp tài chính, bất động sản, thương mại và tự làm chủ. Nó cũng ghi mặt tối: hơn thua về tiền rất mạnh, và dễ mất tự tin sau một thất bại lớn.
Thân đóng tại ô Phu Thê thì tài liệu viết thẳng: buồn vui, thành bại đều liên quan mật thiết tới chất lượng hôn nhân, và phải xem ô Phu Thê tốt hay xấu mới luận tiếp được. Chị Hà ở mục 4 nằm trong nhóm này. Ô Phu Thê của chị mang một chính tinh hãm cùng một trong sáu sát tinh kể ở mục 5, là Địa Kiếp. Nói cho rõ để bạn khỏi đếm vênh khi mở lá số: ô đó còn vài sao khác cũng thuộc loại xấu, nhưng chúng nằm ngoài nhóm sáu sao mà bài này đếm. Phần luận của chị bắt đầu từ đấy chứ không dừng ở chữ THÂN.
Chữ THÂN rơi được vào sáu ô. Bốn ca vừa kể cộng với ca ngay dưới đây là năm; ô thứ sáu là ô đang chờ bài riêng đã nhắc ở mục 4, nên bài này không luận nó.
Riêng giờ Tý và giờ Ngọ cho ra khoảng cách 0, tức chữ THÂN nằm ngay trong ô Mệnh. Tài liệu gọi đây là Thân Mệnh đồng cung, và chỗ ghi đặc trưng của nó không nằm trong mục về cung Mệnh mà nằm ở phần khung chung: nghĩ gì làm nấy, trước sau nhất quán, thiên về bảo thủ. Đó cũng là trường hợp duy nhất mà chữ THÂN không kéo thêm ô nào vào bài đọc.
Mấy dòng vừa rồi là mô tả xu hướng của một mẫu người trong sách, không phải kết luận về một cá nhân. Chúng chỉ có nghĩa khi đọc cùng các sao đang đứng trong ô. Mục về ô Phu Thê nói thẳng chuyện đó, còn hai mục kia thì phải suy từ luật chung là không luận một ô đứng lẻ.
7. Trang này đọc ô Thân ở chỗ nào, và bài này không với tới đâu
Lá số miễn phí trên trang in chữ THÂN lên đúng ô của nó, và đó là chỗ đáng tin nhất để tra. Phần luận giải hiện chưa có mục nào đọc riêng ô Thân, kể cả bài tổng quan miễn phí. Nên nếu bạn muốn biết ô Thân của mình mang sao gì, cách chắc chắn là mở lá số ra nhìn.
Bài này dừng ở hình học và chỗ đứng. Nó chỉ ra chữ THÂN nằm đâu, ô nào, cách ô Mệnh bao xa, ô đó có sao gì và tỉ lệ ra sao. Nó không quy ô Thân ra kết quả nào của đời bạn, không nói ô Thân đẹp thì thành công hay ô Thân xấu thì lận đận, và không có con số nào ở đây gắn với sức khỏe, tuổi tác hay tiền bạc cụ thể.
Số liệu lấy từ lưới 525.960 lá số, ghép mỗi ngày sinh từ 1/1/1960 tới 31/12/2019 với 12 giờ sinh và hai giới. Các con số về chính tinh dùng nửa lưới, tức 262.980 lá, vì giới tính không làm chính tinh đổi chỗ: kiểm 1.440 cặp nam nữ cùng ngày cùng giờ thì cả 1.440 cặp cho ra bộ chính tinh giống hệt trên cả mười hai ô. Riêng số về sát tinh dùng cả lưới, vì Hỏa Tinh và Linh Tinh có đổi chỗ theo giới. Lưới rải đều mọi ngày và mọi giờ nên nó mô tả các cấu hình lá số có thể có, không mô tả dân số thật.
Tử vi trên trang này luận theo trường phái Tam Hợp Phái, là nội dung tham khảo mang tính văn hóa và không thay được quyết định của bạn. Nếu tò mò thì mở lá số ra tìm chữ vàng ở đáy ô bên trái. Đếm xem nó cách ô Mệnh mấy bước theo chiều địa chi tăng dần, con số đó cho biết ô Thân của bạn có mang thêm thứ gì mới hay không.
Câu hỏi thường gặp
Cung Thân nằm ở đâu trên lá số?
Ở hàng dưới cùng của một ô, sát mép trái. Hàng đó còn có tên vòng Trường Sinh ở giữa và quan hệ ngũ hành ở bên phải, nhưng hai thứ ấy ô nào cũng có, còn chữ THÂN thì cả lá số chỉ có đúng một chỗ. Nó cũng là chuỗi duy nhất trong ô viết hoa toàn bộ, nên quét mắt dọc mép trái đáy mười hai ô là tìm ra.
Cung Thân quan trọng hơn hay kém quan trọng hơn cung Mệnh?
Hai cái trả lời hai câu khác nhau nên không xếp hơn kém được. Chữ THÂN không mang sao riêng: ô Thân trống chính tinh 16,442% (đếm trên nửa lưới 262.980 lá) và mang sát tinh 41,364% (đếm trên cả lưới 525.960 lá), cả hai đều nằm đúng trong dải của mười hai ô. Việc của nó là gán cho ô đang đứng một câu hỏi thứ hai, theo tài liệu Tam Hợp Phái là về thứ mà đương số coi là trung tâm đời mình.
Vì sao ô Thân của tôi trùng luôn với cung Mệnh?
Vì bạn sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ. Trên form lập lá số của trang, giờ Tý tách làm hai lựa chọn là Tý sớm và Tý muộn, và cả hai đều cho ra trường hợp này. Khoảng cách giữa ô Thân và ô Mệnh luôn bằng hai lần chỉ số giờ sinh tính theo vòng mười hai ô, nên hai giờ đó cho ra khoảng cách 0. Sách gọi trường hợp này là Thân Mệnh đồng cung và mô tả đặc trưng là nghĩ gì làm nấy, trước sau nhất quán. Đây cũng là trường hợp duy nhất chữ THÂN không kéo thêm ô nào vào bài đọc.
Ô Thân của tôi không có chính tinh nào thì đọc thế nào?
Đọc bằng cách mượn chính tinh từ ô đối diện, tức ô cách nó sáu bước trên vòng mười hai ô. Trường hợp này gặp ở xấp xỉ một trên sáu lá số, và tỉ lệ đó ngang với mọi ô khác chứ không riêng ô Thân. Ô đối diện thì luôn có chính tinh để cho mượn, không có ngoại lệ nào.
Ghi nhớ nhanh
- ✦ Cả lá số chỉ có đúng một chữ THÂN, và nó đánh dấu một ô đã có tên sẵn chứ không tạo ô thứ mười ba. Giờ sinh khoá TÊN ô đó; tháng sinh âm lịch mới quyết định ô ấy nằm ở chi nào.
- ✦ Đếm theo chiều địa chi tăng dần, ô Thân luôn cách ô Mệnh một số bước chẵn: 0, 2, 4, 6, 8 hoặc 10. Trên 525.960 lá số của lưới quét, số ca lẻ là 0. Hệ quả thấy được bằng mắt: ô nằm sát cạnh ô Mệnh không mang chữ THÂN.
- ✦ Với tám trong mười hai giờ sinh, ô Thân trùng một ô trong tam phương tứ chính của Mệnh nên không mang thêm chính tinh nào. Chỉ bốn giờ sinh còn lại mới kéo một ô ngoài cụm vào bài đọc.
- ✦ Ô Thân không đặc biệt về mặt sao. Mỗi chính tinh có mặt ở nó khoảng 8,33% số lá (8,329% tới 8,341%); nó trống chính tinh 16,442% trong khi cả mười hai ô nằm trong khoảng 16,442% tới 16,451%; nó mang sát tinh 41,364% trong khi dải của mười hai ô là 41,364% tới 41,879%. Số về chính tinh đếm trên nửa lưới 262.980 lá, số về sát tinh đếm trên cả lưới 525.960.
- ✦ Phép mượn sao từ ô đối diện luôn có chỗ để mượn: trong 43.239 lá có ô Thân trống chính tinh, không lá nào có ô đối diện cũng trống. Đây là tính chất của mười hai bố cục chính tinh, duyệt tay được, không phải thứ chỉ quét mới ra.
Đọc sâu hơn
Cách đọc lá số tử vi cho người mới
Biết ô mang chữ THÂN đang phụ trách việc gìMười hai cung trên lá số và việc của từng cung
Dành cho ai có ô Thân trống chính tinhCung vô chính diệu và cách mượn sao từ cung đối
Đọc tiếp khi ô Thân rơi vào ô sự nghiệpBốn ô quanh Quan Lộc nói bốn chuyện khác nhau
Đọc tiếp khi ô Thân rơi vào ô đi lạiCung Thiên Di đẹp có nên đi nước ngoài không
Đọc tiếp khi ô Thân rơi vào ô hôn nhânĐọc cung Phu Thê thế nào cho đúng
Xem ô Thân trên lá số của chính bạnLập lá số tử vi miễn phí để xem chữ THÂN của bạn nằm ở ô nào
Thử đọc lá số của chính bạn
Lập lá số miễn phí từ ngày giờ sinh của bạn, rồi hỏi Thầy về đúng điều bạn đang phân vân.
Xem lá số của tôi