Tham Lang thủ Mệnh có phải là người tham không?
Người vừa dựng xong lá số thường đọc cung Mệnh trước, và nếu ở đó có Tham Lang thì câu hỏi bật ra gần như tức thì: tên sao nghĩa là con sói tham, vậy nó đang nói gì về mình? Bài này trả lời bằng ba việc. Xem ngôi sao ấy được an theo cái gì, đếm xem nó vào cung Mệnh thường xuyên tới mức nào, rồi đọc lại chính lời sách để thấy chỗ nào đã bị rút gọn dọc đường.

Tham Lang là ngôi sao thứ nhất của chòm Bắc Đẩu
Trước khi bàn nghĩa, nên biết cái tên tới từ đâu. Tham Lang là tên Đạo giáo đặt cho ngôi sao đứng đầu trong bảy sao Bắc Đẩu, tên Hán Việt là Thiên Xu. Thiên văn hiện đại gọi nó là Dubhe, sao alpha của chòm Đại Hùng, cách Trái Đất chừng 124 năm ánh sáng. Cái tên ấy được đặt cho một điểm sáng trên trời, từ rất lâu trước khi có ai lấy nó ra mô tả tính người.
Trong lá số, Tham Lang là một trong mười bốn chính tinh, và vị trí của nó không được chọn riêng cho ai. Nó luôn đứng cách sao Thiên Phủ đúng hai cung theo chiều thuận. Thiên Phủ thì soi chiếu từ vị trí Tử Vi, còn Tử Vi được an theo cục và ngày sinh âm lịch. Cả chuỗi ấy chỉ gồm phép đếm, không có bước nào hỏi bạn sống ra sao.
Hệ quả đo được ngay. Quét 525.960 lá số, gồm mọi ngày sinh từ 1/1/1960 đến 31/12/2019 nhân với mười hai giờ sinh và cả hai giới, Tham Lang đóng tại cung Mệnh ở 43.818 lá, tức 8,33 phần trăm. Đúng một phần mười hai, đúng như một ngôi sao buộc phải rơi vào đâu đó trong mười hai cung.
Rải ra cả mười hai cung thì mức đều gần như tuyệt đối: cung nhận ít nhất 43.812 lá, cung nhận nhiều nhất 43.840, chênh nhau hai mươi tám lá trên bốn mươi ba nghìn. Cung Mệnh không phải chỗ Tham Lang ưa đến hơn cung khác. Nếu nó rơi vào Mệnh của bạn thì đó là kết quả của ngày và giờ sinh, không phải một lựa chọn nhắm vào bạn.
Cùng một cái tên sao, sách chia đôi cách đọc
Chỗ hay bị bỏ qua nằm ở thế sáng tối. Sách xếp Tham Lang miếu địa ở hai chi Sửu và Mùi, vượng ở Thìn và Tuất, đắc ở Dần và Thân, còn hãm ở sáu chi còn lại là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi. Hai nhóm này được luận gần như hai con người khác nhau.
Ở thế miếu vượng đắc, sách mô tả người thông minh, trung hậu, ưa hoạt động, có óc kinh doanh và tài tổ chức, khéo ăn nói và giỏi giao tế. Ở thế hãm, cũng cuốn sách ấy đổi giọng hẳn: tính dâm, dối trá, biếng nhác, tham lam, hay ghen. Cái nhãn mà người ta mang về nhà sau khi tra mạng thường là vế thứ hai, dù nó chỉ ứng với một phần của các trường hợp.
Đo trên lưới quét thì tỷ lệ như sau. Trong 43.818 lá có Tham Lang thủ Mệnh, 21.380 lá ở thế hãm, tức 48,79 phần trăm. Phần còn lại chia ra miếu 16,29, vượng 17,62 và đắc 17,29 phần trăm, gộp lại là 22.438 lá, tức 51,21 phần trăm nằm ở nhóm được khen. Tính trên toàn bộ lưới, vế đọc nặng kia ứng với 4,06 phần trăm lá số.
Nói cho chính xác thì sáu chi sáng và sáu chi hãm không cho ra đúng năm mươi năm mươi, vì cung Mệnh không rơi đều vào mười hai chi. Trong nhóm Tham Lang thủ Mệnh, chi Tý gặp 4.608 lá còn chi Ngọ chỉ 2.076, dù cả hai đều là đất hãm. Con số 48,79 là kết quả đếm thật, không phải suy ra từ việc chia đôi bảng chi.
Một chi tiết nữa đáng nhớ vì nó mang tính bắt buộc. Tham Lang chỉ miếu ở Sửu và Mùi, mà tại hai chi đó nó luôn ngồi cùng Vũ Khúc. Số lá Tham Lang miếu tại Mệnh và số lá Tham Lang đi cùng Vũ Khúc tại Mệnh trùng khít nhau, đều là 7.138. Ai có Tham Lang ở thế đẹp nhất thì chắc chắn đang đọc một cung có hai chính tinh, không phải đọc mỗi Tham Lang.

Đổi một canh giờ là Tham Lang đổi cung
Chỗ này dễ tự kiểm. Lấy một ngày bất kỳ rồi dựng đủ mười hai lá số cho mười hai giờ sinh. Ngày 12/6/2001 chẳng hạn: Tham Lang lần lượt rơi vào Phúc Đức, Điền Trạch, Tật Ách, Tài Bạch, Huynh Đệ, và vào cung Mệnh ở đúng một giờ duy nhất là giờ Mùi. Mười hai đứa trẻ sinh cùng ngày ấy, chỉ một khung giờ cho ra dòng chữ Tham Lang thủ Mệnh.
Thế sáng tối cũng chạy theo giờ. Vẫn ngày 12/6/2001, Tham Lang miếu nếu rơi vào chi Mùi, vượng nếu rơi vào Tuất, đắc nếu rơi vào Thân. Cùng một ngày sinh, cách nhau vài tiếng đồng hồ, bài luận đã đổi giọng.
Còn một định kiến nên bác bằng số. Kho câu phú cổ có câu “Nữ Mệnh Tham Lang đa tật đố”, hiểu là người nữ có Tham Lang thủ Mệnh thì hay ghen. Đối chiếu 262.980 cặp lá số nam và nữ dựng cùng ngày cùng giờ trên lưới quét, Tham Lang rơi vào đúng cùng một cung ở cả hai lá, không cặp nào lệch. Giới tính có đổi chiều chạy của đại hạn và đổi vị trí một số vòng sao phụ, nhưng vị trí Tham Lang thì không, vì chuỗi an sao của nó không đọc tới giới tính.
Hai điều thực tế kéo theo. Nếu bạn không chắc giờ sinh của mình thì dòng Tham Lang thủ Mệnh cũng chưa chắc đúng, sai một canh giờ là sai cung. Và mọi bài luận chỉ dựa vào năm sinh hay con giáp đều không nói được gì về vị trí này, đơn giản vì chúng thiếu hẳn dữ kiện ngày và giờ.
Ba lá số cùng mang một nhãn
Bảo, nam, sinh 16/1/2000 giờ Sửu. Cung Mệnh đóng ở chi Tý, Tham Lang tại đó ở thế hãm, cùng cung còn có Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Riêu và Địa Kiếp. Cấu hình Tham Lang thủ Mệnh tại Tý hoặc Hợi chính là cách Phiếm Thủy Đào Hoa, cách cục hay bị đem ra nói chuyện chung thủy, và Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Riêu đúng là những cái tên sách liệt kê thêm để nói tình duyên bồng bềnh. Cách này nằm ở hai chi trong mười hai, và bản thân nó chưa nói gì nếu không đọc tiếp Tuần Triệt, tứ hóa và bộ tam hợp trong cùng lá số.
Đọc thêm một dòng nữa thì bức tranh đổi. Bảo sinh năm Kỷ Mão, mà can Kỷ khiến Tham Lang hóa Quyền. Ngôi sao đang bị coi là mối lo lại mang một trong bốn hóa, và là hóa mà sách xếp vào nhóm tốt, ứng với sức cạnh tranh mạnh và những quãng lên nhanh. Cùng một cung, hai dòng chữ ngược nhau, mà người đọc thường chỉ nhớ dòng đầu.
Diệu, nữ, sinh 25/5/2000 giờ Tuất. Cung Mệnh ở chi Mùi, một trong hai chi Tham Lang được miếu, nên cô có Vũ Khúc miếu đứng cạnh Tham Lang miếu, thêm Tả Phụ và Hữu Bật đều đắc. Bộ Tham Vũ ở Sửu Mùi được sách xếp vào lối doanh thương và phát muộn, khớp với câu cổ ngữ rằng Tham Lang không phát sớm, ngoài ba mươi mới bắt đầu vững. Nhưng ngay trong cung ấy cũng có Đà La đắc địa, nghĩa là lá của Diệu đồng thời rơi vào nhóm mà sách gọi là phá cách. Cung Mệnh của Diệu còn có Triệt án ngữ, mà Triệt thì làm nhẹ và làm chậm cả phần lành lẫn phần khó.
Khoa, nam, sinh 30/1/1999 giờ Mão. Cung Mệnh ở chi Tuất, Tham Lang vượng, đi cùng Hỏa Tinh đang ở thế miếu, và trong cung không có Kình Dương hay Đà La. Đây đúng là cách Hỏa Tham mà sách xếp vào loại hoạnh phát, tức phát nhanh và mạnh, nhất là khi rơi vào bốn cung mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ngày dương của Khoa đã sang 1999 nhưng còn trước Tết, nên năm âm vẫn là Mậu Dần, và can Mậu khiến Tham Lang trên lá số còn hóa Lộc.
Cấu hình của Khoa hiếm hơn hai lá trên nhiều. Trong nhóm Tham Lang thủ Mệnh, 15,76 phần trăm có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng cung, nhưng chỉ 4,07 phần trăm vừa rơi vào bốn cung mộ vừa không bị Kình Dương hay Đà La chen vào — và nếu tính đúng Hỏa Tinh như lá của Khoa, không gộp Linh Tinh, thì còn 2,04 phần trăm. Điều kiện cuối không phải chi tiết phụ: sách nói rõ gặp Kình hoặc Đà đồng cung là phá cách, phát nhanh thì bại cũng nhanh. Mà Kình hoặc Đà ngồi cùng Tham Lang tại Mệnh gặp ở 17,12 phần trăm, tức còn phổ biến hơn cả cách Hỏa Tham.
Ba người, ba lá số, cùng một dòng chữ trên giấy. Nếu dòng chữ ấy đủ để mô tả một con người thì cả ba phải giống nhau, và rõ ràng là không.

Tham Lang không bao giờ đứng một mình
Cách an sao buộc nó phải có bạn. Tính từ Thiên Phủ, Tham Lang cách hai cung, Thất Sát cách sáu cung, Phá Quân cách mười cung. Hiệu giữa ba con số ấy luôn là bốn hoặc tám, nghĩa là ba sao luôn cách nhau bốn cung trên vòng địa chi, tức luôn ở thế tam hợp với nhau. Quét đủ 525.960 lá số, không lá nào lệch khỏi bộ ba này. Đọc Tham Lang mà bỏ Thất Sát với Phá Quân đang chiếu vào là đọc thiếu.
Tầm với của nó vì thế rộng hơn con số 8,33 phần trăm. Tham Lang đóng ngay tại Mệnh ở 8,33 phần trăm lá số, nằm trong tam hợp với Mệnh ở 16,67 phần trăm nữa, và chiếu thẳng từ cung đối diện ở 8,33 phần trăm. Cộng lại đúng một phần ba. Cứ ba lá số thì một lá có Tham Lang đứng ở Mệnh hoặc chiếu vào Mệnh, nên nếu đây là dấu hiệu của lòng tham thì một phần ba dân số đã mang sẵn nó từ lúc chào đời.
Vài con số khác cho bạn hình dung mặt bằng. Tính bộ lục sát gồm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không và Địa Kiếp, cung Mệnh có Tham Lang nhận trung bình 0,50 sao trong bộ này, và 58,38 phần trăm số lá ấy không có sao nào trong bộ. Có 31,70 phần trăm mang Tuần hoặc Triệt ngay tại cung Mệnh, hai dấu làm đổi hẳn cách luận một cung. Còn sao Đào Hoa, cái tên hay bị nhắc chung với Tham Lang, thật ra chỉ ngồi cùng cung ở 8,05 phần trăm, tức xấp xỉ mức ngẫu nhiên một phần mười hai.
Tứ hóa cũng không nghiêng về phía xấu. Trong nhóm Tham Lang thủ Mệnh, 11,33 phần trăm có Tham Lang hóa Lộc, 7,78 phần trăm hóa Quyền, 11,32 phần trăm hóa Kỵ. Cộng hai hóa đầu lại thì 19,11 phần trăm được hóa cát, nhiều hơn hẳn phần bị hóa Kỵ. Đây là chỗ chênh mà các bài luận trên mạng ít khi kể.
Vậy đọc dòng đó thế nào cho có ích
Có một chi tiết về thời gian đáng nói trước. Nếu Tham Lang đóng tại cung Mệnh thì đại hạn đi qua chính cung đó là đại hạn đầu tiên của đời người: trên toàn lưới quét, nó luôn khởi ở tuổi 2, 3, 4, 5 hoặc 6 và đóng lại trong khoảng 11 đến 15 tuổi, không có ngoại lệ. Mỗi vòng đại hạn ăn mười năm cho mười hai cung, nên riêng đại hạn ấy phải 120 năm mới quay lại, tức với hầu hết mọi người là không bao giờ. Nhưng tiểu hạn thì khác hẳn: nó đi một cung mỗi năm, nên cứ mười hai năm lại ghé đúng cung có Tham Lang một lần. Nói vận Tham Lang mà không nói rõ đang nói đại hạn hay tiểu hạn chính là chỗ dễ hiểu nhầm nhất.
Chữ tham trong tên sao cũng rộng hơn nghĩa thường dùng. Theo chính các sách tử vi, Tham Lang chủ về dục vọng theo nghĩa bao trùm: vật chất, sắc dục, tri thức và sinh tồn — bốn mặt, chứ không riêng mặt nào. Cùng những cuốn sách ấy ghi Tham Lang có tài điều giải và ngoại giao, xếp nó vào nhóm sao thọ, và nói người có sao này thường mê chuyện tâm linh, thích tìm hiểu số mệnh. Rút gọn tất cả thành hai chữ người tham là bỏ đi phần lớn mô tả.
Thứ tự đọc cho đỡ hoang mang thì đơn giản. Trước hết là thế sáng tối của chính tinh, vì miếu vượng đắc hãm đổi hẳn giọng bài luận. Sau đó xem có chính tinh nào đi cùng không, thường là Vũ Khúc, Tử Vi hoặc Liêm Trinh, vì chỉ 50,17 phần trăm số lá có Tham Lang đứng một mình tại Mệnh. Rồi mới tới phụ tinh và sát tinh, tới Tuần Triệt, tới bộ tam hợp Thất Sát Phá Quân.
Cuối cùng là đổi câu hỏi. Thay vì hỏi mình có tham không, hãy hỏi cái gì đang kéo mình mạnh nhất và mình đã dựng hàng rào ở chỗ nào chưa. Câu sau thì đọc xong lá số là dùng được ngay, còn câu trước thì không bảng sao nào trả lời thay bạn.
Xin nói rõ một lần: đây là nội dung tham khảo theo trường phái Tam Hợp Phái, một quan niệm dân gian lâu đời dùng để soi lại mình, không phải công cụ dự đoán và không thay được quyết định của bạn. Mọi con số trong bài lấy từ chính engine lập lá số của trang này, trên cùng một lưới 525.960 lá số, và bạn có thể tự lập lá số để đối chiếu.
Câu hỏi thường gặp
Tham Lang thủ Mệnh có phải là người tham không?
Không đọc như vậy được. Tham Lang vào cung Mệnh ở 8,33% lá số, tức cứ mười hai người thì một, quá phổ biến để mô tả riêng ai. Chữ “tham” trong tên sao chỉ dục vọng theo nghĩa rộng gồm cả ham hiểu biết và ham trải nghiệm, còn sách tử vi mô tả người có sao này là giỏi giao tế và có tài điều giải. Thế sáng tối của sao và các sao đi cùng mới quyết định giọng của bài luận.
Tham Lang hãm địa ở cung Mệnh thì có xấu không?
Hãm địa là sáu chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi, và 48,79% số lá có Tham Lang thủ Mệnh rơi vào nhóm này. Sách viết nặng ở vế hãm, nhưng đó là văn cổ nói theo lối cực đoan của thời nó, và một dấu hiệu gặp ở gần một nửa số trường hợp thì không phân biệt được ai với ai. Nên đọc tiếp xem cung có Tuần hay Triệt không, có sát tinh nào không, và bộ tam hợp Thất Sát Phá Quân đang ở thế nào.
Nữ có Tham Lang thủ Mệnh thì có hay ghen như câu phú nói không?
Câu phú “Nữ Mệnh Tham Lang đa tật đố” không có chỗ dựa trong cách an sao. Đối chiếu 262.980 cặp lá số nam và nữ dựng cùng ngày cùng giờ, Tham Lang rơi vào đúng cùng một cung ở cả hai, không cặp nào lệch. Giới tính đổi chiều chạy của đại hạn và vị trí vài vòng sao phụ, nhưng không dời ngôi sao này đi đâu cả.
Tham Lang gặp Hỏa Tinh ở cung Mệnh thì nghĩa là gì?
Đó là cách Hỏa Tham, được sách xếp vào loại hoạnh phát, đẹp nhất khi rơi vào bốn cung mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nhưng cách này bị phá nếu có Kình Dương hoặc Đà La đồng cung. Tính đủ cả hai điều kiện thì chỉ 2,04% số lá Tham Lang thủ Mệnh hội đủ cách Hỏa Tham; gộp cả trường hợp Linh Tinh, tức cách Linh Tham, thì lên 4,07%. Trong khi đó 17,12% có Kình hoặc Đà ngồi cùng cung.
Ghi nhớ nhanh
- ✦ Tham Lang là chính tinh an theo chuỗi Thiên Phủ, tức suy ra từ cục và ngày sinh âm lịch; quét 525.960 lá số cho 8,33% có Tham Lang tại cung Mệnh, và mười hai cung nhận gần như bằng nhau, chênh nhau hai mươi tám lá.
- ✦ Gần một nửa số lá Tham Lang thủ Mệnh, 48,79%, rơi vào thế hãm là vế sách viết nặng lời; 51,21% còn lại nằm ở miếu, vượng, đắc, nơi sách mô tả người giỏi tổ chức và giỏi giao tế.
- ✦ Vị trí Tham Lang không đọc giới tính: 262.980 cặp lá số nam và nữ dựng cùng ngày cùng giờ đều đặt nó vào đúng một cung, không cặp nào lệch.
- ✦ Cách Hỏa Tham hoặc Linh Tham mà sách xếp vào loại hoạnh phát chỉ gặp ở 4,07% số lá Tham Lang thủ Mệnh khi tính đủ điều kiện, riêng Hỏa Tham là 2,04%, trong khi Kình Dương hoặc Đà La đồng cung, tức phá cách, gặp ở 17,12%.
- ✦ Tham Lang luôn tam hợp với Thất Sát và Phá Quân, không lệch lá nào trong 525.960 lá; và một phần ba số lá số có Tham Lang đứng ở Mệnh hoặc chiếu vào Mệnh.
Đọc sâu hơn
Lập lá số tử vi miễn phí
Trang nền của chủ đề saoCác sao trong tử vi và ý nghĩa từng chính tinh
Chính tinh luôn đi cùng Tham Lang ở Sửu và MùiSao Vũ Khúc trong lá số
Chính tinh đứng cùng Tham Lang ở Mão và DậuSao Tử Vi trong lá số
Chính tinh đứng cùng Tham Lang ở Tỵ và HợiSao Liêm Trinh trong lá số
Cung mà bài này xoáy vàoCung Mệnh là gì và đọc thế nào
Cùng chủ đề sao, có phần về cách Phiếm Thủy Đào HoaĐào Hoa ở cung Phu Thê có phải dễ ngoại tình không
Hiểu thêm về tứ hóa và Tuần TriệtHóa Kỵ, Tuần, Triệt trong lá số nghĩa là gì
Mặt còn lại của chuyện chính tinhLá số có cung trống: vô chính diệu có đáng lo không
Thử đọc lá số của chính bạn
Lập lá số miễn phí từ ngày giờ sinh của bạn, rồi hỏi Thầy về đúng điều bạn đang phân vân.
Xem lá số của tôiNguồn tham khảo
- Tử vi đẩu số — Wikipedia tiếng Việt — Bối cảnh chung về môn tử vi đẩu số
- Nhóm sao Bắc Đẩu — Wikipedia tiếng Việt — Bảng bảy sao Bắc Đẩu: Dubhe (alpha Ursae Majoris) mang tên Hán Việt Thiên Xu, tên Đạo giáo là Tham Lang